Chuyên mục "Ý tưởng nghiên cứu"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Ý tưởng nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Báo cáo này nghiên cứu lợi nhuận bất thường và tính thanh toán của cổ phiếu xung quanh thông báo chia tách cổ phiếu. Bằng phương pháp nghiên cứu sự kiện, với dữ liệu nghiên cứu là công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) TP.HCM có thông báo chia tách cổ phiếu trong giai đoạn từ tháng 01/2007 đến 05/2014, kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại lợi nhuận bất thường xung quanh thông báo chia tách cổ phiếu. Hơn nữa, thanh khoản của cổ phiếu tăng sau thông báo chia tách cổ phiếu. Bài báo cáo cũng cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa lợi nhuận bất thường khi có sự kiện thông báo chia tách cổ phiếu và tính thanh khoản của cổ phiếu trước sự kiện.
http://vietlod.com/loi-nhuan-bat-thuong-va-tinh-thanh-khoan-cua-co-phieu

Phá sản là khái niệm dùng để chỉ doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được các nghĩa vụ tài chính phát sinh. Phá sản là một hiện tượng kinh tế tự nhiên nhằm đào thải những doanh nghiệp yếu kém trước áp lực của quy luật cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, từ đầu năm 2008 nền kinh tế Việt Nam đối mặt với khủng hoảng kinh tế đã gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng và dẫn đến sự phá sản của hàng chục ngàn doanh nghiệp. Do đó việc dự báo trước nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp là việc làm cần thiết và hết sức thiết thực nhằm giảm thiểu rủi ro. Trên thế giới mô hình dự báo phá sản đã xuất hiện từ khá lâu đời. Tuy nhiên mô hình nào phù hợp với thị trường Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu tổng hợp đầ đủ. Bài viết này nhằm giới thiệu hai mô hình dự báo phá sản Z-Score, H- Score và ứng dụng các mô hình này đã dự báo khả năng phá sản của các công ty niêm yết tại Việt Nam.
http://vietlod.com/mo-hinh-du-bao-pha-san-z-score-vs-h-score

Bài viết là nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2014. Sử dụng kiểm định đồng liên kết (cointegration test) và mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM), nghiên cứu tìm thấy giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ mặt thiết với nhau cả trong ngắn hạn và dài hạn. Kết quả phân tích hàm phản ứng xung cho thấy trước cú sốc của lạm phát, tăng trưởng kinh tế tăng mạnh từ quý thứ 2 và đạt cực đại ở quý thứ 4. Tương tự, trước cú sốc của tăng trưởng kinh tế, lạm phát tăng từ quý tiếp theo và ổn định dần ở quý thứ 5. Kết quả phân rã phương sai đã chỉ ra rằng, trong khoảng thời gian trong hai năm biến động của lạm phát được giải thích bằng 37% biến động của tăng trưởng được giải thích bằng thay đổi trong lạm phát.
http://vietlod.com/moi-quan-he-giua-lam-phat-va-tang-truong-kinh-te-tai-viet-nam

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp ngang giá sức mua theo đề xuất của Hooper và Mann (1989), phân tích tác động truyền dẫn tỉ giá hối đoái đến lạm phát của Việt Nam theo kênh tác động trực tiếp thông qua giá hàng nhập khẩu. Phương pháp đồng liên kết của Johasen và mô hình hiệu chỉnh sai số của Engle và Granger được sử dụng để kiểm tra mức truyền dẫn tỉ giá hối đoái vào lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 1992 – 2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ giá hối đoái thực sự có ảnh hưởng lớn đến lạm phát của Việt Nam. Cụ thể, trong ngắn hạn truyền dẫn tỉ giá hối đoái đến lạm phát là không hoàn toàn, nếu tỉ giá hối đoái tăng 1% thì tỷ lệ lạm phát được dự đoán sẽ tăng 0,35% và trong dài hạn thì truyền dẫn tỉ giá hối đoái đến lạm phát là hoàn toàn ở mức độ rất cao, nếu tỉ giá hối đoái tăng 1% thì tỷ lệ lạm phát sẽ tăng 1,3%.
http://vietlod.com/tac-dong-truyen-dan-ti-gia-hoi-doai-den-lam-phat


  • Bài viết “Nguy cơ doanh nghiệp từ cấu trúc vốn sai lầm” của TS. Đinh Thế Hiển cho thấy một cách nhìn sâu sắc về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó, kết quả cho thấy "cấu trúc vốn có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển doanh nghiệp". Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng lại ở phần phân tích định tính, chưa đi sâu vào ước lượng mức tác động cụ thể của việc lựa chọn cơ cấu nguồn vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua các mô hình định lượng.
  • Đây sẽ là một đề tài rất thú vị đối với các bạn sinh viên chuyên ngành tài chính (tài chính ngân hàng hoặc tài chính doanh nghiệp). Với các dữ liệu sẳn có (các DNNY trên HSX và HNX), cùng với các mô hình định lượng ở những thị trường tương tự: Thái Lan, Malaysia, Ai Cập, Palestin thì việc thực hiện đề tài là rất khả thi.
  • Các bạn sinh viên tài chính năm cuối muốn thử thách mình ở những đề tài mang tính thực tiễn có thể xem đây là một trong những đề tài tốt nghiệp của mình. Các bạn cần phải có kiến thức về mô hình dữ liệu bảng và kinh nghiệm về sử dụng phần mềm STATA, SAS, R hoặc SPSS (không hỗ trợ tốt bằng 3 phần mềm trước) để hoàn thành đề tài này.
Nguồn: sưu tầm từ Internet

Một số link tham khảo:
http://www.macrothink.org/journal/index.php/ijafr/article/download/1825/1516

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.